[Tông du Guinea Xích Đạo] Đức Thánh Cha Lêô XIV gặp gỡ Chính quyền, Xã hội dân sự và Ngoại giao đoàn
Vatican News
Sáng sớm ngày 21/04, sau khi cử hành Thánh lễ riêng và từ biệt Tòa Sứ thần Tòa Thánh tại Angola, Đức Thánh Cha đã di chuyển tới Sân bay Quốc tế Luanda. Tại đây, Tổng thống João M. G. Lourenço đã chủ trì nghi thức tiễn biệt trang trọng trước khi Ngài lên chuyên cơ ITA A330-900neo khởi hành đi Guinea Xích Đạo.
Hành trình dài 1.564 km với hơn 2 giờ bay, ngang qua không phận các nước Cộng hoà Dân chủ Congo, Gabon và Camerun trước khi hạ cánh xuống Sân bay Quốc tế Malabo của Guinea Xích Đạo vào lúc 11:45. Tổng thống Teodoro O. N. Mbasogo và phu nhân đã nồng nhiệt chào đón Đức Thánh Cha trong nghi thức tiếp đón trang trọng với 21 phát đại bác chào mừng, duyệt đội danh dự cùng màn tặng hoa từ hai trẻ em trong trang phục truyền thống.
Sau đó, Đức Thánh Cha đã đến Dinh Tổng thống để thăm hữu nghị Ngài Teodoro O. N. Mbasogo – nhà lãnh đạo tại vị lâu nhất châu Phi với hơn 46 năm cầm quyền kể từ năm 1979. Tại đây, Đức Thánh Cha đã có cuộc gặp gỡ quan trọng với giới chức chính quyền, đại diện xã hội dân sự và ngoại giao đoàn.
Trong bài diễn văn của mình, Đức Thánh Cha nói:
Thưa Ngài Tổng thống,
các Cấp Chính quyền và các thành viên Ngoại giao đoàn cùng tất cả quý vị!
Tôi gửi lời chào nồng nhiệt đến quý vị, với lòng biết ơn về sự đón tiếp và những lời tốt đẹp đã dành cho tôi. Tôi rất hạnh phúc khi được hiện diện nơi đây để thăm viếng người dân Guinea Xích Đạo yêu dấu. Thưa Ngài Tổng thống, khi đến thăm đất nước này, Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã định nghĩa con người của Ngài là “trung tâm biểu tượng quy tụ những khát vọng mãnh liệt của một dân tộc nhằm thiết lập một bầu khí xã hội của tự do đích thực, công lý, tôn trọng và thúc đẩy quyền lợi của mỗi cá nhân hay nhóm người, cũng như những điều kiện sống tốt đẹp hơn, cho phép tất cả mọi người được hoàn thiện bản thân với tư cách là con người và là con cái Thiên Chúa” (Thánh Gioan Phaolô II, Diễn văn gửi Tổng thống Guinea Xích Đạo, Malabo). Đó là những lời vẫn luôn mang tính thời sự và là lời chất vấn bất kỳ ai đang đảm đương trách nhiệm công vụ.
Mặt khác, “vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo âu của con người ngày nay, nhất là của những người nghèo và những ai đang đau khổ, cũng chính là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo âu của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà không tìm thấy tiếng vang trong tâm hồn họ” (Hiến chế Mục vụ Gaudium et spes, 1). Những diễn đạt này từ Hiến chế Gaudium et spes của Công đồng Vaticanô II thể hiện rõ nhất những lý do và tình cảm đã đưa tôi đến với quý vị, để củng cố đức tin và an ủi người dân của đất nước đang chuyển mình nhanh chóng này. Bởi lẽ, cũng như trong trái tim Thiên Chúa, tiếng vang của những gì đang diễn ra dưới trần gian này, giữa hàng triệu người nam và người nữ mà Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta đã hiến dâng mạng sống, cũng vang vọng trong trái tim của Giáo hội.
Quý vị biết rằng Thánh Augustinô đã nhìn nhận các sự kiện và lịch sử theo mô hình của hai thành đô: thành đô Thiên Chúa, vĩnh cửu, đặc trưng bởi tình yêu vô điều kiện của Người, hiệp nhất với tình yêu tha nhân, đặc biệt là người nghèo; và thành đô trần thế, nơi trú ngụ tạm thời, nơi con người sinh sống cho đến khi qua đời. Trong viễn cảnh này, hai thành đô tồn tại song hành cho đến tận thế (x. De civitate Dei, 19,14) và mỗi con người, qua những quyết định hằng ngày của mình, sẽ thể hiện mình muốn thuộc về thành đô nào.
Tôi được biết quý vị đã thực hiện dự án đồ sộ là xây dựng một thành phố, mà từ vài tháng nay đã trở thành thủ đô mới của đất nước. Quý vị đã muốn đặt cho nó một cái tên dường như vang vọng tên của thành Giê-ru-sa-lem trong Kinh Thánh: Ciudad de la Paz (Thành phố của Hòa bình). Mong sao một quyết định như thế sẽ chất vấn mọi lương tâm về việc họ muốn phụng sự thành đô nào! Như tôi đã có dịp nói với Ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh, theo vị đại giáo phụ Augustinô, thành đô trần thế tập trung vào tình yêu vị kỷ đầy kiêu ngạo, vào sự khao khát quyền lực và vinh quang trần thế dẫn đến sự hủy diệt.
Ngược lại, thánh Augustinô cho rằng các Kitô hữu được Thiên Chúa kêu gọi sống trong thành đô trần thế với trái tim và tâm trí hướng về thành đô trên trời, quê hương đích thực của họ. Đó là thành phố mà Tổ phụ Áp-ra-ham “nhờ đức tin, ông Áp-ra-ham đã vâng nghe tiếng Chúa gọi mà ra đi đến một nơi ông sẽ được lãnh nhận làm gia nghiệp, và ông đã ra đi mà không biết mình đi đâu. Nhờ đức tin, ông đã tới cư ngụ tại Đất Hứa như tại một nơi đất khách, ông sống trong lều cũng như ông I-xa-ác và ông Gia-cóp là những người đồng thừa kế cùng một lời hứa, vì ông trông đợi một thành có nền móng do chính Thiên Chúa vẽ mẫu và xây dựng” (Dt 11,8-10). Mỗi con người đều có thể thấu hiểu được nhận thức có từ xa xưa về việc sống trên trần gian như khách lữ hành. Điều căn bản là phải nhận thấy sự khác biệt giữa những gì bền vững và những gì chóng qua, giữ cho mình tự do khỏi sự giàu sang bất chính và ảo tưởng về sự thống trị. Đặc biệt, “người Kitô hữu, khi sống trong thành đô trần thế, không xa lạ với thế giới chính trị, và nỗ lực áp dụng đạo đức Kitô giáo, được linh hứng từ Kinh Thánh, vào việc quản trị dân sự. Thành đô Thiên Chúa không đề xuất một chương trình chính trị nhưng mang lại những suy tư quý giá về những vấn đề căn bản của đời sống xã hội và chính trị” (Diễn văn gửi Ngoại giao đoàn, ngày 9 tháng 1 năm 2026).
Ngày nay, Học thuyết Xã hội của Giáo hội đại diện cho một sự trợ giúp cho bất kỳ ai muốn đối mặt với những “thứ mới mẻ” đang làm mất ổn định hành tinh và sự chung sống của con người, bằng cách trước hết tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người. Đây là một phần căn bản trong sứ mạng của Giáo hội: góp phần vào việc đào tạo lương tâm qua việc loan báo Tin Mừng, đưa ra các tiêu chuẩn luân lý và các nguyên tắc đạo đức đích thực, trong sự tôn trọng tự do của mỗi cá nhân cũng như quyền tự trị của các dân tộc và chính phủ của họ. Mục tiêu của Học thuyết Xã hội là giáo dục để đối mặt với các vấn đề vốn luôn thay đổi, bởi mỗi thế hệ đều mới mẻ, với những thách thức mới, những ước mơ mới và những câu hỏi mới.
Đặc biệt, trước mắt chúng ta đang nổi lên những vấn đề làm rung chuyển nền tảng kinh nghiệm của con người. Như tôi đã có dịp nhấn mạnh, khi so sánh thời đại của chúng ta với thời điểm Đức Giáo hoàng Lêô XIII ban hành Thông điệp Tân Sự (Rerum novarum), thì ngày nay “sự loại trừ chính là bộ mặt mới của bất công xã hội. Khoảng cách giữa một ‘nhóm thiểu số nhỏ’ – 1,1% dân số – và đại đa số còn lại đã mở rộng một cách thê thảm. [...] Khi nói về sự loại trừ, chúng ta cũng đối diện với một nghịch lý. Tình trạng thiếu đất đai, thực phẩm, nhà ở và việc làm xứng đáng đang tồn tại song song với khả năng tiếp cận các công nghệ mới vốn đang lan rộng khắp nơi thông qua thị trường toàn cầu hóa. Điện thoại di động, mạng xã hội và thậm chí cả trí tuệ nhân tạo đều nằm trong tầm tay của hàng triệu người, bao gồm cả những người nghèo” (Diễn văn gửi các Phong trào Bình dân, 23 tháng 10 năm 2025). Do đó, nhiệm vụ không thể trì hoãn của các Cấp Chính quyền và của một nền chính trị tốt là loại bỏ những rào cản đối với sự phát triển con người toàn diện, trong đó việc phân chia tài sản phổ quát và tinh thần đoàn kết là những nguyên tắc nền tảng.
Chẳng hạn, chúng ta không thể che giấu rằng sự tiến hóa công nghệ thần tốc mà chúng ta đang chứng kiến đã đẩy nhanh sự đầu cơ liên quan đến nhu cầu nguyên liệu thô, điều dường như làm người ta quên đi những nhu cầu thiết yếu như bảo vệ công trình sáng tạo, quyền lợi của cộng đồng địa phương, phẩm giá lao động và bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Về vấn đề này, tôi xin lặp lại lời kêu gọi của Đức Giáo hoàng Phanxicô, người đã rời bỏ thế giới này đúng một năm trước: “Ngày nay chúng ta phải nói ‘không’ với một nền kinh tế của sự loại trừ và bất bình đẳng. Nền kinh tế ấy giết người” (Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium, 53). Thật vậy, so với vài năm trước, ngày nay càng thấy rõ hơn rằng một trong những động cơ chính của việc gia tăng các cuộc xung đột vũ trang là việc chiếm đóng các mỏ dầu và khoáng sản, bất chấp luật pháp quốc tế và quyền tự quyết của các dân tộc.
Chính các công nghệ mới dường như cũng được thiết kế và sử dụng chủ yếu cho mục đích chiến tranh, và trong những mức độ ý nghĩa, chúng cũng không cho thấy sự gia tăng cơ hội cho tất cả mọi người. Ngược lại, nếu không có sự thay đổi nhịp độ trong việc đảm nhận trách nhiệm chính trị và không có sự tôn trọng đối với các thể chế và thỏa thuận quốc tế, thì vận mệnh của nhân loại có nguy cơ bị tổn hại một cách bi thảm. Thiên Chúa không muốn điều này. Thánh Danh Người không thể bị xúc phạm bởi ý chí thống trị, bởi sự độc đoán và kỳ thị: trên hết, danh Người không bao giờ được viện dẫn để biện minh cho các lựa chọn và hành động chết chóc. Đất nước của quý vị đừng ngần ngại kiểm tra lại lộ trình phát triển của mình và những cơ hội tích cực để định vị bản thân trên trường quốc tế nhằm phục vụ luật pháp và công lý.
Đất nước của quý vị là một đất nước trẻ! Do đó, tôi chắc chắn rằng nơi Giáo hội, quý vị sẽ tìm thấy sự trợ giúp để đào tạo những lương tâm tự do và trách nhiệm, để cùng nhau tiến về tương lai. Trong một thế giới bị thương tổn bởi sự độc đoán, các dân tộc đang đói khát công lý. Cần phải trân trọng những ai tin vào hòa bình và dám thực hiện những chính sách lội ngược dòng, lấy công ích làm trung tâm. Cần có sự can đảm của những tầm nhìn mới và một cam kết giáo dục để dành không gian và niềm tin cho giới trẻ. Thành đô của Thiên Chúa, thành đô của hòa bình, thực sự cần được đón nhận như một món quà đến từ trên cao, nơi chúng ta hướng về bằng khát vọng và mọi nguồn lực của mình. Đó vừa là lời hứa, vừa là nhiệm vụ. Cư dân nơi ấy sẽ “đúc gươm đao thành cuốc thành cày, rèn giáo mác nên liềm nên hái” (Is 2,4) và sau khi mọi giọt nước mắt được lau khô, họ sẽ tham dự vào bàn tiệc không còn dành riêng cho một tầng lớp thượng lưu, vì những thức ăn béo ngậy, rượu ngon và những món ăn thượng hạng (x. Is 25,6) sẽ được sẻ chia cho tất cả mọi người.
Thưa Ngài Tổng thống, thưa quý vị, chúng ta hãy cùng nhau bước đi, với sự khôn ngoan và hy vọng, hướng về Thành đô của Thiên Chúa, là thành đô của hòa bình.
Kết thúc cuộc gặp gỡ, trên đường di chuyển đến Tòa Giám mục Malabo, Đức Thánh Cha đã dừng chân tại Nhà thờ Chính tòa dâng kính Thánh Êlisabét nước Hungary để cầu nguyện và chầu Thánh Thể, trước khi về dùng bữa trưa và nghỉ ngơi tại Tòa Giám mục.
Cảm ơn bạn đã đọc bài viết này. Nếu bạn muốn nhận các bản tin qua email, vui lòng đăng ký newsletter bằng cách nhấp vào đây.
