Tìm kiếm

Câu chuyện

#268 Bước Từng Bước | Truyện ngắn: Bao Giờ Em Con Mới Về?

Truyện ngắn “Bao giờ em con mới về?” nổi bật ở hình ảnh người mẹ âm thầm chờ đợi đứa con lầm lạc, như một bóng dáng của lòng thương xót không bao giờ khép cửa. Qua câu hỏi day dứt “bao giờ em con mới về?”, câu chuyện diễn tả sức mạnh của cầu nguyện, tha thứ và niềm hy vọng bền bỉ nơi Thiên Chúa. Cuối cùng, sự trở về của người em không chỉ chữa lành một gia đình, mà còn xác nhận rằng ai đặt niềm hy vọng nơi Chúa sẽ không thất vọng.

Truyện ngắn: BAO GIỜ EM CON MỚI VỀ?
Tác giả: Lữ Thị Thúy Nga

Trong tuyển tập các tác phẩm vào vòng chung khảo giải truyện “Hy vọng và Hòa Giải” của Vatican News Tiếng Việt. 

Ở trong nhà, có một thứ mà má tôi giữ rất kỹ. Đó là tấm hình cả gia đình chụp chung khi lần đầu tiên chúng tôi được ba má đưa lên Sài Gòn chơi. Hồi đó ba má còn trẻ và mấy anh em tôi cũng chỉ mới là học sinh cấp hai. Tấm hình được rửa cỡ lớn rồi bỏ vào khung kính treo ở phòng khách. Hồi tụi tôi còn nhỏ, cứ tối tối, cả nhà ngồi trước hiên quây quần hóng gió nói chuyện với nhau rồi nhìn lên tấm hình ấy để chọc nhau cười. Cái thời đó vui ghê. 

Giờ thì hết rồi, má đem khung hình ấy cất vào phòng rồi thỉnh thoảng lại cầm lên ôm vào lòng. Mỗi lần như vậy, tôi lại thấy má khóc. Nước mắt má chảy tràn qua khóe mi rồi lăn dài trên hai gò má. Má khóc vì nhớ thằng Út. Thương má, tôi cứ rủ rỉ: 

  • Má ơi, má cho con bỏ tấm hình đó đi nha. Nó cũ rồi! 

  • Hình gia đình mình mà con, sao lại bỏ? - Má đáp lại rất dứt khoát

Có lần má đi nhà thờ về không kiếm thấy tấm hình ở chỗ cũ, má hỏi: 

  • Tấm hình má để đầu giường đâu rồi con? 

Tôi lại vội vàng đi kiếm rồi đưa lại cho má. Lần này má sợ lạc mất, má cất luôn dưới cái gối đầu giường. Má giữ tấm hình đó rất kỹ. Gia đình tôi cũng nhiều lần chụp hình chung nhưng hay thiếu người này vắng người kia, chỉ duy nhất có tấm này là đầy đủ cả nhà.

Giờ tóc má đã bạc, má gầy hẳn đi, khuôn mặt in hằn dấu chân chim. Thời con gái má đẹp lắm! Mái tóc má dài mượt đen nhánh. Má là con gái thành phố mà! Tuy nhà ông bà ngoại không giàu có nhưng cũng đủ để lo cho má học hành đến nơi đến chốn. Duyên phận đẩy đưa! Một lần nọ, má về miền Tây chơi. Má gặp ba rồi bén duyên với miền quê sông nước đến giờ. Từ ngày lấy ba, về làm dâu miền Tây má phải tập làm quen với ruộng đồng, cây lúa, tập đi cấy, gieo mạ rồi gặt lúa và đủ thứ công việc đồng áng vất vả. Hồi bà nội còn sống hay nói: “má bay hiền lành lại đảm đang”. Bên nhà nội và xóm làng ai cũng quý má hết.

Anh chị em tôi lần lượt chào đời. Chúng tôi lớn lên với ruộng đồng, với cánh diều, con trâu, với hơi ấm của má và bàn tay mạnh mẽ của ba. Anh Hai hiền lành, sáng trí, lúc nào học hành cũng đứng trong “top” đầu của lớp. Anh là niềm tự hào của ba má. Tôi thì không được bằng anh Hai. Tôi ham chơi, hay bị má nhắc, có khi còn bị ba cho ăn đòn vì cái tội lười học. Còn thằng Út có lẽ là đứa được thương nhất. Nó bị sinh thiếu tháng nên rất yếu. Hồi đó, nó được mười hai tháng rồi mà vẫn chưa biết đi. Ba má sợ nó bị liệt nên tốn rất nhiều tiền mua đủ loại sữa canxi cho nó uống. Từ ngày sinh nó, má gánh thêm cái bệnh hen suyễn. Cứ trái gió trở trời là má lại ho nặng và khó thở. Ba đành phải bán bớt đất để có tiền chữa bệnh cho má và lo cho chúng tôi ăn học. Thằng Út hay ốm vặt nên nó cũng chẳng bao giờ phải ra đồng làm việc. Nó cũng cứ phải nghỉ học suốt để đi chữa bệnh. Có lẽ vì vậy mà nó học không bằng chúng bạn nên đâm ra tự ti, mặc cảm. Càng lớn nó càng ít nói rồi có khi chẳng thèm nói chuyện với ai trong nhà.

Tôi còn nhớ, năm đó khi đang học lớp 12 tự dưng nó đòi nghỉ ngang xương. Nó làm ba má chưng hửng, bần thần vì nó. Ba má có thuyết phục cỡ mấy nó vẫn nhất quyết không chịu đi học lại. Ba má buồn lắm! Chuyện vẫn chưa xong. Nó hăng lên đòi ba má phải đưa cho nó một số tiền. Nó nói:

  • Con sẽ lên thành phố để làm ăn. 

Nó chưa từng bước chân ra khỏi cái xóm này, chưa biết thành phố ở đâu. Nhưng cứ nói như thể nó nắm cả vận mệnh trong tay. 

Rồi vì nó mà ba đâm ra khó tính rồi sinh bệnh đau tim từ ngày ấy. Ba không nhìn mặt nó. Nó cũng chẳng thèm nói chuyện với ba. Má nghĩ nó gần má thì sẽ nghe lời má khuyên nhưng má nói nó cũng cứ lì ra. Nó nói: 

  • Ba má không cho con nghỉ học, con cũng nghỉ. Con sẽ làm giàu mà không cần học.

Má ngậm ngùi khóc nhiều ngày đêm. Chẳng biết nó bị ai bỏ bùa mê thuốc lú mà nghĩ dại đến vậy. Tôn trọng quyết định của nó, ba má đành bán thêm một miếng đất rồi đưa cho nó số tiền đó. Thế là nó ra đi…

Mấy năm sau, anh Hai tốt nghiệp đại học kinh tế và có được việc làm ổn định ở thành phố. Sau đó, tôi cũng học xong đại học sư phạm, rồi làm giáo viên ở thành phố. Giờ chỉ có ba má ở với nhau dưới quê. Tôi với anh Hai đều biết thằng Út cũng ở thành phố nhưng nó chẳng bao giờ liên lạc gì với tôi và anh Hai. Có lẽ nó vẫn muốn chứng minh cho cả nhà thấy nó sẽ thành đạt mà không cần học. Nhiều lần tôi và anh Hai tìm đến chỗ nó ở để xem nó có cần giúp gì không. Nó biết nên toàn tránh mặt rồi đổi luôn chỗ ở để khỏi ai tìm thấy nó. 

Mấy năm đầu, ba má nói nó còn về quê. Cứ lâu lâu nó lại về một lần rồi lại vòi thêm của ba má ít tiền đem đi. Nó nói là mượn rồi sẽ trả nhưng ba má cứ đưa bao nhiêu nó xài hết bấy nhiêu chứ có thấy nó đem đồng nào về trả cho ba má đâu. Lần gần đây nhất, có lẽ cũng là lần cuối cùng mọi người thấy nó xuất hiện trong căn nhà này. Đó cũng là hôm ba lên cơn đau tim cấp rồi nhập viện và qua đời. 

Hôm đó thằng Út về nhà. Nó muốn vay ba má một số tiền lớn, cả vài trăm triệu chứ không ít. Nó nói, nó cần số tiền này để làm ăn lớn. Nó lại hứa khi nó buôn bán thành công, nhất định nó sẽ hoàn trả ba má những khoản nó vay mượn ba má xưa nay. 

Má gặn hỏi xem nó làm gì với số tiền lớn như vậy, nhưng nó nhất định không nói. Lần này, ba nhất định không cho nó dù chỉ một xu. Ba với nó lớn tiếng qua lại. Cơn đau tim làm ba ngã vật xuống đất. Má vội gọi xe cấp cứu. Ba nhập viện. Thằng Út vẫn không tha cho má. Nó chẳng quan tâm đến chuyện ba ra sao, ba thế nào! Nó một mực đòi tiền má cho bằng được. Rồi nó thấy không lấy được của má đồng nào, nó vơ vét hết mọi thứ trong nhà đem đi bán. Cái gì bán được là nó bán. Nó ôm số tiền đó bỏ đi biệt tăm biệt tích. Từ ngày đó, không một ai biết nó ở đâu, làm gì, sống chết ra sao. 

Hôm đó, tôi vừa kết thúc tiết dạy ban sáng, mở điện thoại ra thì thấy mấy cuộc gọi nhỡ liên hồi của anh Hai, tôi vội gọi lại ngay. Giọng của Anh Hai từ đầu bên kia vang lên dồn dập: 

  • Thắm về ngay, ba nhập viện cấp cứu rồi! 

  • Cái gì? Ba sao….ba… ba… ba bị gì anh Hai?…Ba ơi…ba…

Cổ tôi nghẹn đắng, tim thắt lại đến muốn tắt thở. Nước mắt giàn giụa, tôi sắp xếp công việc rồi bắt ngay chuyến xe về quê. Ngồi trên xe mà như ngồi trên đống lửa. Tôi rút chuỗi tràng hạt ra và bắt đầu đọc kinh. Tôi thầm thĩ: xin Đức Mẹ cứu ba con với…Suốt chặng đường dài tôi không tài nào chợp mắt được. Về đến nơi, tôi chạy thẳng vào bệnh viện. Bác sĩ nói gia đình tôi phải chuẩn bị tinh thần. Có lẽ lần này ba sẽ không qua khỏi! Tôi nhớ mình đã khóc thét lên như một đứa trẻ. Mới tuần trước tôi còn về thăm ba. Tôi hẹn tết này sẽ sắm cho ba một đôi dày tây để ba đi nhà thờ. Vậy mà…

Ba mất. Họ hàng tập trung về nhà tôi. Người thì an ủi má và anh em tôi, người thì đọc kinh. Mấy cô chú ai cũng hỏi: 

  • Thằng Út nó không về à ? Ai hỏi má cũng chỉ nói: 

  • Cháu nó đi làm xa lắm chắc không về kịp! 

Má nói chắc nịch như thể thằng Út đã gọi điện thoại nói chuyện với má vậy. Nhưng anh em tôi biết, nó làm gì có gọi điện thoại về cho má đâu. Nó chặn số của má luôn rồi! Lúc ba mất, tôi với anh Hai lấy số của má gọi cho nó. Chẳng có lấy một tín hiệu. 

Đêm cuối cùng ở lại bên linh cữu của ba. Má bắt kinh cho cả nhà cùng đọc. Đọc kinh xong, má đến gần bên quan tài ba. Má gọi tôi lại gần. Anh chị Hai và mấy cháu cũng ở đó. Má nói với ba: 

  • Ông về với Chúa nhớ đến mẹ con tui còn ở trần gian. Tui với các con có làm phiền lòng ông điều gì, ông bỏ qua cho mẹ con tui heng…

Rồi má khóc! Nước mắt má chảy tràn, giọng má run run đứt quãng: 

  • Ông tha thứ cho thằng Út nha ông! Nó còn dại lắm. Ông đừng giận nó! Ông về Thiên Đàng nhớ xin với Chúa cho nó biết hoán cải, biết thay đổi đời sống mà bắt đầu lại nha ông. 

Suốt đêm hôm ấy, má ngồi cạnh quan tài ba. Tay má cầm tràng chuỗi mân côi. Má đọc kinh suốt đêm. 

Sớm hôm sau, lễ xong, mọi người trong giáo xứ tiễn đưa linh cữu ba ra nghĩa trang. Đôi mắt má thâm quầng mệt mỏi, má nói: 

  • Con nhìn thử xem có thấy thằng Út đứng ở chỗ nào không. 

Nghe lời má tôi nhìn quanh nhưng nào có thấy thằng Út. Lo tang lễ cho ba xong, ai về nhà nấy. Anh chị Hai cũng trở về nhà để tiếp tục công việc, các cháu cũng phải đi học lại. 

Từ ngày ba mất, tôi dọn về quê ở với má. Dạy học ở thành phố mức lương cao hơn và nhiều cơ hội để thăng tiến hơn nhưng tôi không nỡ để má ở một mình. Tôi xin về dạy học ở một trường gần nhà để sớm hôm còn lo cho má. Thỉnh thoảng anh Hai cũng chở vợ con về thăm má. Sau những ngày ấy, má yếu hẳn đi. Bệnh hen suyễn ngày xưa của má trở lại và nặng thêm. 

Vừa nhớ ba vừa thương má chừng nào tôi càng tức, càng giận thằng Út chừng ấy. Cũng tại nó mà ba mất. Tại nó mà gia đình ra thế này. Tôi giữ trong lòng nỗi tức giận ấy. Tôi chỉ mong nó đừng bao giờ bén mảng về căn nhà này nữa. Má biết tôi còn giận thằng Út nên má hay khuyên tôi: 

  • Con nhớ cầu nguyện cho em. Dù nó có thế nào thì cũng vẫn là em của con. Chúa đã tha thứ cho mình, mình cũng phải biết tha thứ cho nhau con ạ. Con cầu nguyện nhiều cho em mau trở về với Chúa với gia đình mình nha con! 

Những lời của má như cảnh tỉnh trái tim tôi. Có lẽ má phải là người giận thằng Út nhiều nhất mới phải. Đằng này má lại lại người khuyên tôi cầu nguyện rồi tha thứ cho em. 

Lần cuối khi thằng Út bỏ đi, má nhờ người bắt thêm một cái đèn Led ở cổng. Tối nào má cũng để điện sáng choang. Má dặn tôi:

  • Con khép cổng thôi chứ đừng khóa. 

Còn phòng của thằng Út má dặn tôi quét dọn sạch sẽ rồi để sẵn một bộ quần áo mới trong tủ cho nó. Mỗi bữa cơm, tôi thấy má hay cất dành để lại một phần. Tôi biết má để dành cho thằng Út. Má hay nói với tôi: 

  • Biết đâu hôm nay thằng Út nó về con ạ. 

Ở nhà, hễ cứ nghe tiếng gió thổi hai cánh cổng đập vào nhau kêu ken két là má lại hỏi: 

  • Có phải Út về không con? 

Rồi má hay để cái điện thoại trong túi áo. Đi đâu má cũng đem theo. Hễ có tiếng điện thoại reo, khuôn mặt má tươi hẳn lên. Má vẫn chờ một cuộc điện thoại của thằng Út. Có lần tôi chở má ra nghĩa trang thắp hương, đọc kinh cho ba. Đến nơi, tôi thấy trên mộ ba có mấy nén hương và hoa tươi. Ngửi thấy hương nhang, má nói: “chắc thằng Út về thắp hương cho ba”. Đọc kinh xong, lúc về, tôi hỏi bác gác cổng nghĩa trang xem có phải một cậu thanh niên dáng cao cao gầy gầy đến thắp hương chỗ mộ ba tôi không? Bác gác cổng nói: 

  • Tui thắp hương rồi chưng hoa cho ông chớ từ sáng đến giờ có thấy cậu thanh niên nào vào nghĩa trang này đâu cô.

Tôi biết má chờ từng tín hiệu nhỏ của thằng Út. Má chờ mà chẳng bao giờ tỏ vẻ thất vọng. Có lần buột miệng tôi nói:

  • Má chờ làm gì cho mệt. Thằng Út nó không về nữa đâu.

Nhưng má nói với tôi: 

  • Mình phải tin tưởng vào Chúa con ạ. Ai đặt niềm tin nơi Chúa thì sẽ không bao giờ phải thất vọng.

Thương má nên tôi ở vậy không lập gia đình. Năm tháng qua đi, thằng Út vẫn chưa về. Má ngày càng yếu hơn. Tôi biết má chưa bao giờ mất đi niềm hy vọng rằng một ngày nào đó thằng Út sẽ về. Niềm hy vọng nơi má lan tỏa sang tôi. Dần dần hạt mầm hy vọng ấy cũng bắt đầu trổ sinh trên mảnh đất tâm hồn tôi.

Thời gian chẳng ngừng trôi. Tôi có linh cảm ngày má trở về với Chúa chẳng còn xa nữa. Năm ấy má trở bệnh nặng, những cơn hen suyễn liên tục làm má khó thở. Giờ má không còn đi nhà thờ được như xưa nữa. Nằm trên giường má, tay cầm tràng hạt má không ngừng thầm thĩ: 

  • Kính mừng Maria…xin Mẹ đưa con của con trở về... 

Ngồi bên cạnh má, tôi ngước nhìn lên Chúa Giê-su trên thánh giá, tôi hỏi: 

  • Chúa ơi, bao giờ em con mới về? 

Có lẽ đó là câu hỏi mà tôi đã hỏi đi hỏi lại Chúa rất nhiều lần. 

  • Chúa có mệt khi con cứ hỏi Chúa hoài chỉ với một câu hỏi đó không? Sao Chúa cứ lặng im? Sao Chúa không lên tiếng? 

Dù Chúa có lặng thinh, dù thằng Út vẫn chưa về nhưng tôi không nản chí, không bỏ cuộc. Ước nguyện của má sẽ tiếp tục được sống trong trái tim tôi. Tôi liên lỉ cầu nguyện cho em. Sau bao tháng ngày niềm tin và lòng cậy trông của tôi vào nơi Chúa được thanh luyện và lớn dần. Không ngày nào tôi quên thưa Chúa tâm nguyện của tôi: 

  • Chúa ơi, bao giờ em con mới về? Ngày nào em con chưa về, ngày đó Chúa lại cho con cơ hội để cây hy vọng trong con được lớn lên và trổ sinh hoa trái. 

Năm đó má tôi qua đời. Tôi vào phòng má lấy tấm hình xưa treo lên chỗ cũ. Đó là tấm hình chụp không có thằng Út. Má đã không nhận ra. Mắt má lòa đi vì thương khóc quá nhiều. Vì giận thằng Út, ba đã đốt tấm hình có đầy đủ cả nhà. Ngày má tìm không thấy tấm hình là ngày tôi lén để làm một khung hình khác. Khung hình ấy, tôi tự tay vẽ hình thằng Út vào.

Hôm ấy, nắng chiều ngả bóng trên con đường làng. Tia nắng vàng chiếu qua những giọt nước đọng trên tán lá xanh long lanh như những vì sao giữa ban ngày. Trên những tán cây rúc rích tiếng những chú chim đang rộn ràng thi nhau về tổ. Tôi ra thăm mộ ba má. Và kìa, lòng tôi chợt reo lên khi thấy mộ ba má đã được thắp hương, chưng hoa rất đẹp. Phía sau đóa hoa hướng dương, có hàng chữ được khắc lên một tấm bia đặt trước mộ: “Ba má ơi, xin tha thứ cho đứa con bất hiếu”. Ký tên: “Út của ba má”

Vâng, lạy Chúa, cuối cùng thì em con đã về… 

Con biết rằng mình sẽ không bao giờ phải thất vọng khi đặt niềm hy vọng nơi Ngài. 

Tạ ơn Chúa vì Ngài là chốn con cậy trông và là mạch nguồn hy vọng không bao giờ vơi cạn.


👉 Các truyện khác: YOUTUBE

🎧 Spotify

📱 Ứng dụng Giáo hội Công giáo

🌐 Vatican News

🙏 Xin mời cùng lắng nghe và chia sẻ. 

Cảm ơn bạn đã đọc bài viết này. Nếu bạn muốn nhận các bản tin qua email, vui lòng đăng ký newsletter bằng cách nhấp vào đây..

30 tháng 4 2026, 11:18